CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẬN ĐỘNG VÀ THU HÚT ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH ĐắK LắK : THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

406
  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm qua, đội ngũ trí thức trực tiếp tham mưu, góp ý, phản biện vào những quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước. Do đó, trong việc xây dựng và hoàn thiện chủ trương, đường lối, chính sách, hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở đều có sự đóng góp tích cực của đội ngũ trí thức. Có thể khẳng định, Nghị quyết số 27-NQ/TW "Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” là một bước đi đúng và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội trong và ngoài nước hiện nay. Tuy nhiên, việc tập hợp, thu hút đội ngũ tri thức khoa học công nghệ tham gia cống hiến sự nghiệp khoa học công nghệ của Việt Nam nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng trong thời gian qua vẫn còn nhiều vấn đề chưa đạt kỳ vọng cả về số lượng và chất lượng. Từ quan điểm trên, tác giả sẽ đánh giá thực trạng và phân tích các yêu tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục các rào cản để hoạt động vận động, tập hợp, thu hút đội ngũ tri thức của Tỉnh nhà tốt hơn trong thời gian tới.

  1. NỘI DUNG
  1. Thực trạng hoạt động vận động và thu hút đội ngũ tri thức vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội vừa qua

Tại các diễn đàn hội nghị, hội thảo và tạp chí, rất nhiều chuyên gia khoa học đã có những bài viết tâm huyết về chủ đề thu hút đội ngũ tri thức, trong đó có rất nhiều bài viết đánh giá về thực trạng hiện nay. Tựu trung lại có thể lột tả thực trạng qua một số nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, về thể chế và chính sách.

Hệ thống thể chế, chính sách, quy định đãi ngộ, đánh giá và tôn vinh đối với trí thức trong thời gian qua cũng đã được ban hành. Nó cũng là một trong những yếu tố quan trọng có tác động lớn đến phát huy vai trò đội ngũ trí thức. Hệ thống thể chế quy định địa vị pháp lý góp phần tạo môi trường làm việc thuận lợi. Cùng với đó, các chính sách phù hợp tạo sự công bằng, bình đẳng, minh bạch, là động lực cho sự cống hiến. Đi liền với đó là sự động viên, tôn vinh kịp thời. Các chính sách này không chỉ tạo điều kiện cho trí thức cống hiến, mà còn khuyến khích, thúc đẩy niềm tự hào, tinh thần trách nhiệm của người trí thức. Tuy nhiên, việc quản lý, đánh giá trí thức về cơ bản vẫn thực hiện theo quy trình chung như đối với tất cả các loại nhân lực khác, chưa được quan tâm đúng mức, chưa thực sự chú ý tạo điều kiện cần thiết để đội ngũ trí thức phát huy năng lực. Hành lang pháp lý bảo đảm môi trường dân chủ và tự do học thuật chưa đồng bộ. Bên cạnh đó cũng chưa có cơ chế, chính sách đào tạo, tuyển dụng, bố trí, sử dụng và trả công có tính đặc thù áp dụng riêng cho đội ngũ trí thức, thiếu chính sách và cơ chế để trí thức chuyên tâm cống hiến, phát triển và được xã hội tôn vinh bằng chính kết quả hoạt động chuyên môn nghề nghiệp của mình. Thiếu chính sách và cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho trí thức chuyên tâm cống hiến, phát triển và được xã hội tôn vinh; đồng thời, thiếu những cơ chế thích hợp để phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài. Cơ chế và chính sách tài chính hiện hành trong các hoạt động khoa học và công nghệ, văn hóa và văn nghệ còn nhiều bất cập, nặng về thủ tục giấy tờ, không gắn với chất lượng, hiệu quả thực tế, gây khó khăn, dẫn đến mặc nhiên thừa nhận sự đối phó, không trung thực, “làm một đằng, báo cáo một nẻo”, làm giảm chất lượng của các công trình sáng tạo, lãng phí thời gian, công sức, tiền của, ảnh hưởng tới uy tín và danh dự của trí thức.

Thứ hai, công tác lãnh đạo của Đảng với đội ngũ tri thức

Nhiều cấp ủy, chính quyền coi công tác xây dựng đội ngũ trí thức là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên; tích cực chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ trí thức, làm cho toàn xã hội hiểu đúng và đề cao vai trò của trí thức, xây dựng một xã hội có nhiều con đường tiến thân và được xã hội trọng dụng. Cấp ủy các cấp luôn quan tâm củng cố và phát huy vai trò của tổ chức đảng trong các hội trí thức; lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các chính sách, chế độ, quy định cụ thể về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, xây dựng đội ngũ trí thức. Hoạt động đối thoại giữa trí thức với người đứng đầu cấp ủy, chính quyền được nhiều địa phương, đơn vị tiến hành thường xuyên, trên tinh thần cởi mở, dân chủ. Các vấn đề quan trọng được bàn bạc công khai, đặc biệt là các lĩnh vực tham mưu, hoạch định chiến lược phát triển, các văn bản chỉ đạo về phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị, thể hiện sự coi trọng vị trí và vai trò của đội ngũ trí thức với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đơn vị. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội thực sự là cầu nối giữa Đảng, chính quyền với đội ngũ trí thức. Thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, đội ngũ trí thức luôn tích cực đóng góp xây dựng Đảng, chính quyền và phát huy khả năng phản biện những chủ trương, đề án do cấp ủy, chính quyền đề xuất, củng cố, kiện toàn Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật và các hội thành viên. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả trên, vẫn còn các cấp ủy đảng và chính quyền, các cơ quan quản lý chưa nhận thức đầy đủ vai trò của trí thức và chậm đổi mới nội dung, phương thức tiến hành công tác vận động trí thức. Công tác vận động trí thức của Ðảng và Nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế cả về nội dung, phương pháp tiến hành. Ðến nay vẫn chưa có chiến lược tổng thể về phát triển đội ngũ trí thức. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chưa thể hiện rõ quan điểm lấy khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo làm “quốc sách hàng đầu”, chưa gắn với các giải pháp phát huy vai trò đội ngũ trí thức trên nhiều lĩnh vực. Nhiều chủ trương, chính sách đúng của Ðảng và Nhà nước về công tác trí thức chậm đi vào cuộc sống; có nơi, có lúc thực hiện thiếu nghiêm túc, nửa vời, thiếu những chế tài đủ mạnh bảo đảm cho việc thực hiện có kết quả.

Thứ ba, đề cao trách nhiệm của đội ngũ tri thức

Các cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến địa phương thường xuyên quan tâm tới công tác tuyên truyền, giáo dục về lập trường tư tưởng cách mạng cho trí thức thông qua các đợt học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, lồng ghép vào nội dung hoạt động của tổ chức Liên hiệp Hội, gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Từ đó, đội ngũ trí thức luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, quan điểm tư tưởng chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, nêu cao lòng yêu nước, phát huy những phẩm chất tốt đẹp của trí thức. Tạo cơ chế để đội ngũ trí thức tham gia truyền bá những tiến bộ khoa học và công nghệ, ứng dụng vào sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng, nâng cao dân trí, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân; tham gia giám sát, tham mưu, tư vấn và phản biện xã hội trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, một số cấp ủy đảng và chính quyền chưa đánh giá, sử dụng đúng trí thức, ngay cả với những trí thức đầu ngành, vẫn còn nhận thức lệch lạc về các chức danh khoa học và có tâm lý đề cao bằng cấp, dẫn đến những băn khoăn, tâm tư, thậm chí sự tự ti hoặc có thái độ tiêu cực, chống đối trong đội ngũ trí thức. Thực tế cho thấy, vẫn còn hiện tượng cán bộ lãnh đạo ngại tiếp xúc, đối thoại với trí thức, không thực sự lắng nghe, thậm chí quy chụp, nhất là khi trí thức góp ý phản biện những chủ trương, chính sách, những đề án, dự án do các cơ quan lãnh đạo và quản lý đưa ra.

Thứ tư, đổi mới hoạt động thu hút đội ngũ tri thức từ tổ chức chính trị được giao nhiệm vụ

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đẩy mạnh việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, phát huy trí tuệ sáng tạo của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ; chủ động tư vấn, phản biện và giám định xã hội trong quá trình xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình, dự án, đề án lớn. Bên cạnh đó, có thể thấy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật, chưa phát huy tốt vai trò của tổ chức nơi tập hợp và đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ. Việc tham gia các hoạt động tư vấn, phản biện và giám định các chủ trương, chính sách, các dự án phát triển kinh tế - xã hội của đội ngũ trí thức còn hạn chế. Nhiều địa phương chưa ban hành cơ chế tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật. Công tác thu hút, tập hợp và định hướng hoạt động của các tổ chức hội trí thức chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Mô hình, phương thức hoạt động còn nhiều bất cập, chưa gắn với tình hình phát triển kinh tế - xã hội.

  1. Các yếu tố ảnh hưởng đến vận động, tập hợp thu hút đội ngũ tri thức

Từ phân tích và đánh giá thực trạng thu hút đội ngũ tri thức khoa học và công nghệ tham gia phát triển kinh tế, xã hội và tổ chức LH Hội ở trên cũng như phân tích của các chuyên gia tại các diễn đàn hội thảo, hội nghị, bài viết đăng tạp chí về nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả tập hợp, thu hút đội ngũ tri thức, có thể rút ra 03 yếu tố quan trọng như sau:

Trước hết, đó chính là hệ thống thể chế, chính sách đánh giá, tôn vinh và đãi ngộ đội ngũ tri thức.

Hệ thống thể chế, chính sách, quy định đãi ngộ, đánh giá và tôn vinh đối với trí thức là một trong những yếu tố quan trọng có tác động lớn đến phát huy vai trò đội ngũ trí thức. Hệ thống thể chế quy định địa vị pháp lý góp phần tạo môi trường làm việc thuận lợi. Cùng với đó, các chính sách phù hợp tạo sự công bằng, bình đẳng, minh bạch, là động lực cho sự cống hiến. Đi liền với đó là sự động viên, tôn vinh kịp thời. Các chính sách này không chỉ tạo điều kiện cho trí thức cống hiến, mà còn khuyến khích, thúc đẩy niềm tự hào, tinh thần trách nhiệm của người trí thức. Đến thời điểm hiện nay, mặc dầu các thể chế chính sách đã ban hành nhưng việc thực thi, triển khai còn rất nhiều rào cản và hạn chế. Mặc khác việc thể chế hóa các chính sách trong khuôn khổ pháp luật vẫn còn nhiều rào cản, từ đó ảnh hưởng rất lớn đến niềm tin của đội ngũ tri thức khi đóng góp vào sự nghiệp phát triển chung của Tỉnh nhà.

Trí thức là người có phẩm chất, năng lực, trí tuệ, nhưng chúng ta chưa có cơ chế, chính sách riêng và phương thức đào tạo, sử dụng có tính đặc thù áp dụng riêng cho đối tượng đặc biệt này. Việc quản lý và sử dụng trí thức về cơ bản vẫn thực hiện theo quy trình chung như đối với tất cả các loại nhân lực khác, chưa được quan tâm đúng mức, còn nhiều hạn chế, ít chú trọng tạo điều kiện cần thiết để đội ngũ trí thức phát huy năng lực. Nhận diện ra khó khăn về phương thức thực hiện là một yếu tố then chốt để giúp các cấp chính quyền cải thiện định hướng khi triển khai nhiệm vụ tạo động lực để đội ngũ trí thức đóng góp trí tuệ và sức lực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh nhà.

Thứ hai, niềm tin từ nhà quản lý, lãnh đạo tại địa phương đến các sản phẩm từ Liên hiệp Hội

Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội ở một số liên hiệp hội địa phương, hội thành viên còn yếu về chất lượng, thiếu tính thuyết phục, các hội thành viên và tổ chức KH-CN trực thuộc tuy có phát triển về số lượng nhưng chất lượng và hiệu quả hoạt động chưa cao; nội dung và hình thức hoạt động thiếu chuyên nghiệp,  nên hạn chế đến niềm tin từ phía các nhà lãnh đạo, quản lý. Đây cũng là một rào cản làm giảm đi động lực cống hiến của đội ngũ tri thức từ phía liên hiệp các hội KH-KT  cũng như cấp lãnh đạo các cấp tại Tỉnh nhà.

Thứ ba, động lực tham gia của đội ngũ tri thức vào các tổ chức khoa học và công nghệ từ các cách thức triển khai của các cấp

Vai trò của tổ chức Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật, nơi tập hợp và đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ phát huy chưa tốt. Công tác thu hút, tập hợp và định hướng hoạt động của các tổ chức hội trí thức chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Mô hình, phương thức hoạt động còn nhiều bất cập, chưa gắn với tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Các diễn đàn khoa học chuyên nghiệp tuy đã có sự đổi mới, phát triển, song chưa tạo được sự khác biệt so với hình thức tổ chức hội nghị, hội thảo tư vấn, phản biện; còn nhiều vấn đề lớn được xã hội quan tâm nhưng chưa được tổ chức thành diễn đàn khoa học chuyên nghiệp để đội ngũ trí thức bày tỏ quan điểm và đóng góp ý kiến; việc tổ chức diễn đàn gắn với công tác tư tưởng của đội ngũ trí thức còn mờ nhạt.có rất nhiều giải pháp về thu hút, sử dụng trí thức của Tỉnh nhà được đề cập từ các hội nghị, hội thảo đến triển khai thực tế, tuy nhiên việc thực hiện công tác trí thức còn mang nặng yếu tố tự phát, thiếu bài bản, tính hệ thống, liên hoàn, đồng bộ, không có sự kết hợp hài hòa từ văn bản đến thực tiễn, giữa đào tạo và sử dụng. Từ đó dẫn đến nhiều bất cập trong bố trí công việc, triển vọng phát triển công việc của trí thức và sự đảm bảo gắn kết giữa hai bên. Đây cũng là một vấn đề dẫn đến trí thức tuy có hài lòng với công việc hiện tại nhưng chưa có động lực để cống hiến.

  1. Đề xuất các giải pháp trong vận động và thu hút đội ngũ tri thức khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội Tỉnh Đắk Lắk thời gian đến

Từ phân tích thực trạng và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận động và thu hút đội ngũ trí thức Tỉnh nhà trong thời gian qua, tác giả đề xuất 05 nhóm giải pháp nhằm tháo gỡ các rào cản ảnh hưởng đến hoạt động này như sau:

Thứ nhất, cần xác định việc vận động thu hút là nhiệm vụ trọng tâm chính trị của Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Đắk Lắk thời gian đến.

Cấp ủy địa phương cần làm rõ vai trò quan trọng của Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Đắk Lắk trong việc vận động, thu hút đội ngũ tri thức trong hệ thống chính trị của mình. Tạo điều kiện cho Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh làm tốt nhiệm vụ là tổ chức chính trị xã hội, là địa chỉ tin cậy của đội ngũ trí thức Tỉnh nhà cống hiến cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Thứ hai, quy hoạch phát triển nhân lực gắn liền với phát triển đội ngũ tri thức giai đoạn 2020-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Trong những năm tới, để tập trung phát triển ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao cùng các ngành công nghệ sinh học, công nghiệp sạch, tiết kiệm năng lượng, công nghiệp phụ trợ theo nghị quyết của Tỉnh Đảng bộ năm 2021, đội ngũ trí thức sẽ phải phát triển theo hướng đa dạng hơn về thành phần xuất thân, nguồn gốc đào tạo, nơi làm việc, lợi ích nhóm. Chính vì thế, Đảng bộ và chính quyền thành phố cần tiếp tục nghiên cứu một cách căn bản, toàn diện để nắm chắc hiện trạng, điểm mạnh, điểm yếu của đội ngũ trí thức đang hoạt động trong hệ thống chính trị, khoa học và công nghệ, sản xuất kinh doanh; những thành công, hạn chế trong dự báo, tuyển dụng; đào tạo, bồi dưỡng; bố trí, sử dụng; môi trường làm việc, chính sách tôn vinh - đãi ngộ đối với trí thức, nhân tài. Đó là cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng những giải pháp có tính khả thi cao nhằm phát triển đội ngũ trí thức, nhân tài của Tỉnh Đắk Lắk.

Thứ ba, xác định tầm quan trọng của đội ngũ trí thức góp phần trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội địa phương là vấn đề cốt lõi trong tư duy quản lý của lãnh đạo tại địa phương các cấp.

Tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy và chính quyền về vai trò, vị trí quan trọng của trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức lớn mạnh là một nhiệm vụ vừa có ý nghĩa chiến lược, vừa mang tính cấp bách. Trong công tác lãnh đạo, quản lí đội ngũ trí thức, cần lưu ý: Ngoài nhu cầu vật chất, trí thức còn có nhu cầu cao về đời sống tinh thần. Họ thường “dễ” tự ái, không thích bị “dạy khôn”, càng không chấp nhận sự áp đặt về tư tưởng, niềm tin. Mối quan tâm hàng đầu của trí thức là môi trường làm việc lành mạnh để phát huy được năng lực trí tuệ. Do xuất thân từ nhiều nguồn đào tạo khác nhau nên đội ngũ trí thức mang những đặc điểm tâm lí, lối sống của các vùng, miền. Vì thế, để lãnh đạo, quản lí đội ngũ trí thức có hiệu quả thì không phải chỉ cần quan điểm, đường lối, chủ trương đúng mà còn phải có cách thức lãnh đạo thích hợp, khéo léo và tế nhị. Các cấp ủy Đảng và chính quyền cần nghiên cứu để thay đổi chính sách đối với trí thức, bắt đầu từ việc lựa chọn, sau đó có kế hoạch bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ tùy thuộc vào tài năng của trí thức.

Thứ tư, tiếp tục cải thiện môi trường và hoàn thiện cơ chế, chính sách dành cho đội ngũ trí thức

Tạo môi trường thuận lợi, hoàn thiện chính sách để trí thức an tâm cống hiến, phát huy năng lực sáng tạo và đóng góp hiệu quả vào sự nghiệp chung. Phát huy dân chủ trong hoạt động sáng tạo khoa học và công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để trí thức có cơ hội khẳng định mình và cống hiến. Thể chế hóa các chủ trương, chính sách xã hội nhằm xây dựng một môi trường thực sự dân chủ, tôn trọng và bảo vệ các điều kiện lao động sáng tạo, các chế độ đãi ngộ thích đáng đối với trí thức. Các chính sách cần được nghiên cứu và sớm đưa vào thực tiễn để phát huy mạnh mẽ vai trò của trí thức như: khen thưởng những công trình nghiên cứu khoa học có giá trị lí luận và thực tiễn; thành lập và duy trì các giải thưởng chính thức của Tỉnh về khoa học và công nghệ... Có chính sách ưu đãi, trọng dụng nhân tài, nhất là tạo điều kiện làm việc đối với trí thức đầu ngành; chính sách khuyến khích những nhà khoa học làm việc trong các viện, các trung tâm nghiên cứu; chính sách thu hút, tập hợp trí thức trong và ngoài nước, nhất là trí thức Việt kiều tham gia tích cực vào công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ.

Động lực là rất cần thiết để cá nhân trong một tổ chức làm việc hiệu quả và phong cách quản lý hoặc lãnh đạo có một vai trò quan trọng. Động lực không phải lúc nào cũng dựa trên phần thưởng tài chính, nhưng các phương pháp khen thưởng phi tài chính cũng có thể được sử dụng để thu được những điều tốt nhất từ ​​đội ngũ tri thức. Mặc dù các cá nhân có kỳ vọng của họ, nhưng trách nhiệm của lãnh đạo là phát triển và điều chỉnh các lý thuyết phù hợp để mang lại sự hài lòng trong công việc cho đội ngũ của họ. 

Thứ năm, ổn định hệ thống tổ chức và và đổi mới phong cách hoạt động Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh

Tiếp tục củng cố và tăng cường hệ thống tổ chức, hoạt động của Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh, nâng cao chất lượng sinh hoạt Hội; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các hội thành viên và kết nạp hội viên mới, trong đó chú trọng kết nạp trí thức trẻ. Mở rộng việc mời gọi chuyên gia đầu ngành tham gia các tổ chức Hội và tăng cường trao đổi chuyên môn, truyền đạt kinh nghiệm cho đội ngũ trí thức trẻ.

  1. KẾT LUẬN

Thực tiễn cho thấy, ở một đất nước nào có đội ngũ trí thức đông, mạnh về chất và lượng, thường là những đất nước có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và xã hội, đặc biệt là  nền tảng của sự phát triển bền vững. Vì vậy, ở mỗi nước đều có chính sách phát triển đội ngũ trí thức, đồng thời có những chính sách ưu đãi để thu hút đội ngũ trí thức nói riêng, nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung đến làm việc và cống hiến, đặc biệt là tại các nước phát triển. Việt Nam nói chung và Tỉnh Đắk Lắk nói riêng, trong thời gian qua, đặc biệt giai đoạn từ năm 2010-2020 đã có những chuyển biến tích cực về phát triển kinh tế, xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, trong đó phải kể đến có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ trí thức. Để thực hiện tốt phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2030 tầm nhìn 2045, đặc biệt thời kỳ của chuyển đổi số IoT, AI trên nền tảng công nghệ 4.0, 5.0, việc vận động, thu hút và tập hợp đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ của Tỉnh nhà là nhân tố hết sức quan trọng không thể thiếu. Để làm được điều này, cấp lãnh đạo địa phương cần quyết tâm tháo gỡ những rào cản gia nhập của đội ngũ trí thức Tỉnh nhà.

Từ phân tích được thể hiện trong nội dung bài viết này, tác giả kỳ vọng nhiệm vụ quan trọng này không chỉ là của Lãnh đạo các cấp tại địa phương mà còn là bản thân Liên hiệp các hội KH&KT tỉnh Đắk Lắk sẽ được cải thiện trong thời gian đến và các điểm nghẽn về thu hút đội ngũ trí thức sẽ được giải quyết tốt hơn.

 TS. Nguyễn Ngọc Tuyên - Viện Trưởng Viện HEAMI

                                                                                                                                                                                                                                                                                                       GS Trường Đại học giáo dục quốc tế Paris- CH Pháp

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN