Loading Please Wait...
Tình hình sử dụng phân bón và tình trạng dinh dưỡng của đất trồng cà phê lâu năm

TS. Tôn Nữ Tuấn Nam

 

Một chế độ bón phân hợp lý bao gồm cả phân hữu cơ, phân vô cơ. Phân vô cơ hay còn gọi là phân khoáng là loại phân không thể thiếu trong điều kiện thâm canh tăng năng suất ngày nay, nó có thể xem như là đòn bẩy để nâng cao năng suất cây trồng. Tuy vậy, bón phân khoáng không cân đối hợp lý hay lạm dụng phân khoáng sẽ ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, giảm hiệu quả phân bón và còn gây ra sự thay đổi tính chất lý hóa học đất theo chiều hướng bất lợi.

Đối với một loại cây lâu năm có nhu cầu dinh dưỡng cao như cây cà phê, lượng phân bón khoáng được bón vào đất hàng năm khá lớn, điều này có thể gây nên sự biến đổi tính chất đất sau vài chục năm canh tác. Việc khảo sát lại tính chất đất đai là điều cần thiết để có định hướng điều chỉnh công thức bón phân cho phù hợp hơn với tình trạng dinh dưỡng trong đất vườn cà phê hiện nay.

Công ty phân bón Bình Điền đã cùng Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Đắk Lắk tiến hành khảo sát tình hình sử dụng phân bón cho cà phê, lấy mẫu đất đánh giá lại độ phì của đất trồng cà phê sau nhiều năm canh tác. Công việc điều tra nghiên cứu này được thực hiện trên 5 tỉnh Tây Nguyên với số mẫu đất được khảo sát là 100 mẫu.

Các kết quả chính như sau:

1. Tình hình sử dụng phân bón cho cà phê

- Có tới 80% nông hộ trồng cà phê bón phân hữu cơ cho cà phê. Loại phân hữu cơ được bón cho cà phê là phân chuồng hoặc các loại phân hữu cơ sinh hóa, hữu cơ vi sinh … (gọi chung là phân hữu cơ chế biến). Phân hữu cơ chế biến được sử dụng phổ biến hơn do nguồn phân chuồng khan hiếm. Lượng phân hữu cơ chế biến được bón trung bình 2 kg/cây/năm. Phong trào ủ vỏ quả cà phê với các chế phẩm men vi sinh để làm phân hữu cơ khá phổ biến, hơn 70% hộ được phỏng vấn có sử dụng vỏ quả cà phê để ủ phân và bón trả lại cho vườn cây.

- Lượng phân bón khoáng tính ra nguyên chất rất thay đổi giữa các lô. Liều lượng N biến động từ 248 – 628kg/ha/năm, trung bình là 346 kg/ha/năm. P205 biến động từ 70 - 429kg/ha/năm, trung bình là 195 kg/ha/năm. K20 biến động từ 140-550 kg/ha/năm, trung bình là 306kg/ha/năm. Tỷ lệ N, P205, K20 nhìn chung được cải thiện theo chiều hướng cân đối, hợp lý hơn so với kết quả sử dụng phân bón do Trương Hồng điều tra được tại Dak Lak năm 1996 là 501, 271 và 301 kg N, P205, K20/ha. Việc cải thiện tỷ lệ NPK theo chiều hướng cân đối có sự đóng góp phần nào của các loại phân NPK hỗn hợp chuyên dùng cho cà phê tại các vùng chuyên canh. Số liệu điều tra cũng cho thấy có khoảng 68% nông hộ bón phân cho cà phê với tỷ lệ cân đối NPK chấp nhận được nhưng lại còn đến 32% hộ bón chưa cân đối hợp lý và vẫn còn nhiều hộ bón phân khoáng liều cao vượt xa nhu cầu sử dụng của cây.

- Loại phân khoáng được sử dụng rất phong phú, bao gồm phân đơn và các loại phân NPK hỗn hợp. Chỉ có 7% nông hộ dùng phân đơn hoàn toàn để bón cho cà phê, đây là các hộ nhận khoán lô của các công ty cà phê, phân bón được công ty cấp phân tạm ứng và các hộ này không có điều kiện để đầu tư thêm phân ngoài quy trình đầu tư của công ty.  Có 32% hộ chỉ dùng các loại phân NPK hỗn hợp để bón cho cà phê và 61% hộ dùng cả hai loại phân đơn và NPK hỗn hợp để bón cho cà phê. Như vậy có tới 93% hộ được phỏng vấn sử dụng NPK bón cho cà phê, ít nhất là 1 đợt bón trong năm.

Có thể nói rằng phân NPK hỗn hợp được người trồng cà phê ưa dùng vì tiện lợi, đặc biệt là các loại NPK chuyên dùng cho cà phê.

- Các loại phân vi lượng cũng được người trồng cà phê quan tâm. Có 23% nông hộ bón thêm các loại phân trung vi lượng khác ngoài các loại phân đơn và NPK hỗn hợp. Các loại phân trung, vi lượng được dùng để bón là Sulphat kẽm, Sulphat ma nhê, Sulphat đồng, Bo, Siêu Bo, Siêu kẽm …..Liều lượng bón có thể từ 50 kg – 250kg các loại vi lượng/ha. Các loại phân vi lượng thương phẩm này có hàm lượng các chất vi lượng nguyên chất rất khác nhau, tuy vậy người nông dân không lưu ý đến hàm lượng Zn, B, Cu ....nguyên chất trong phân thương phẩm và nhu cầu vi lượng của cà phê mà chỉ bón theo kinh nghiệm nên ở nhiều lô bón quá liều lượng cho phép. Lạm dụng các chất trung, vi lượng, bón vượt quá nhu cầu thực tế của cây có thể gây ra hiện tượng ngộ độc chất vi lượng và mất cân bằng dinh dưỡng trong đất và trong cây.

2. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng đất trồng cà phê lâu năm

Kết quả phân tích 100 mẫu đất trồng cà phê trên 20 năm tuổi cho thấy:

   + Đất vườn cà phê kinh doanh lâu năm nhìn chung rất chua, pH KCl biến động từ 3,3 - 4,32. So với số liệu đất trồng cà phê khoảng hai mươi năm trước đây thì đất có chiều hướng chua hơn.

   + Hàm lượng hữu cơ và N tổng số trong đất nhìn chung ở mức trung bình đến khá giàu, phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây cà phê.

   + Hàm lượng lân tổng số trong đất bazan trồng cà phê khá giàu, trung bình đạt 0,38%. Lân dễ tiêu trong đất rất biến động, từ 0,4 mg/100g đất đến 27,54mg/100g đất. Số mẫu đất có hàm lượng lân dễ tiêu trong đất < 3mg/100g đất (cấp nghèo) chiếm đến 53%, trong khi đó lượng phân lân được bón cho cà phê ở tất cả các lô điều tra thường rất cao, đạt mức trung bình 195kg/ha/năm như đã nói ở phần trên. Có thể nhận định rằng độ pH thấp trong đất đã tạo điều kiện phóng thích nhiều sắt, nhôm di động vào đất và lân dễ tiêu bị giữ lại bởi các ion sắt nhôm di động này.

   + Hàm lượng Ca và Mg trao đổi trong đất rất thấp, số mẫu đất có hàm lượng Ca và Mg trao đổi < 1 lđl/100g đất (cấp nghèo) chiếm hơn 70%.

   + Hàm lượng lưu huỳnh dễ tiêu trong đất biến động rất rộng, từ 18 – 255 ppm. Chỉ có 13% mẫu đất có hàm lượng S dễ tiêu <30 ppm. Nghiên cứu về dinh dưỡng lưu huỳnh cho cà phê vào các năm 1996-2000 cho thấy hàm lượng S dễ tiêu trong đất trồng cà phê chỉ biến động từ 15 – 30 ppm, và ở ngưỡng > 20 ppm đã có thể đáp ứng nhu cầu cây cà phê về lưu huỳnh. Như vậy lưu huỳnh dễ tiêu trong đất trồng cà phê ngày nay đã tăng lên rất cao. Có một mối liên quan giữa hàm lượng lưu huỳnh dễ tiêu trong đất và lượng phân bón có chứa lưu huỳnh. Các nông hộ bón phân NPK hỗn hợp (có lưu huỳnh) với lượng 2000-3000kg/ha/năm, phân Super lân với liều cao 1000 kg/ha/năm, phân SA với liều cao 500kg /ha/năm thường có hàm lượng S dễ tiêu trong đất rất cao.

Lưu huỳnh là yếu tố dinh dưỡng trung lượng rất cần thiết cho cà phê, nếu thiếu hụt sẽ gây ra hiện tượng bạc lá non, ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất cà phê. Hiện tượng thiếu lưu huỳnh xảy ra phổ biến trên cây cà phê vào các năm 1985-1995 đến nay cơ bản đã được giải quyết nhờ vào việc bón các loại phân khoáng có chứa lưu huỳnh như sulphat đạm, các loại NPK hỗn hợp có chứa lưu huỳnh. Tuy vậy nếu bón một lượng S dư thừa trong đất liên tục nhiều năm cũng dễ gây nên sự chua hóa đất nhanh hơn và trong chừng mực nào đó ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng và năng suất cây trồng. Ở Ấn Độ, người ta cũng đã quan sát thấy có sự tương quan âm có ý nghĩa giữa hàm lượng lưu huỳnh dễ tiêu trong đất và pH đất tại 4 vùng trồng cà phê chính của nước này.

Một số kết quả điều tra đánh giá độ phì đất vừa nói trên là cơ sở khoa học để có định hướng điều chỉnh công thức phân bón cho cà phê, để các nhà sản xuất phân bón NPK hỗn hợp ngày càng hoàn thiện hơn các công thức phân bón chuyên dùng cho cà phê nhằm phục vụ tốt hơn cho việc thâm canh cây cà phê theo hướng bền vững. Các chất trung lượng và vi lượng được phối trộn hợp lý trong phân NPK hỗn hợp sẽ rất tiện dụng cho người nông dân sử dụng. Một loại phân bón NPK hỗn hợp cân đối, hợp lý về các chất đa và trung vi lượng, có sự hỗ trợ của chất cải tạo đất cho phép tăng năng suất cây trồng, đồng thời giữ gìn được độ phì nhiêu đất.

 

Tài liệu tham khảo

1.     Trương Hồng, 1996; Điều tra hiện trạng sử dụng phân bón cho cà phê tại Dak Lak; Báo cáo khoa học kỹ thuật hàng năm; Viện KHKT NLN Tây Nguyên.

2.     Tôn Nữ Tuấn Nam, Trương Hồng, 1999. Đất và phân bón cho cà phê, trong Cây cà phê Việt Nam, Đoàn Triệu Nhạn chủ biên, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội.

3.     Tôn Nữ Tuấn Nam, 1999; Nghiên cứu tác dụng của lưu huỳnh đến sinh trưởng phát triển và năng suất cà phê vối ở Tây Nguyên; Luận văn tiến sĩ nông nghiệp

4.     Hồ Công Trực, Phạm Quang Hà, Phạm Tiến Hoàng, 2005. Xác định lượng phân bón thích hợp cho cà phê vối kinh doanh trên đất bazan ở Tây Nguyên qua phương pháp nghiên cứu cân bằng dinh dưỡng, Kết quả nghiên cứu khoa học, quyển 4, Viện Nông hóa thổ nhưỡng.

5.     A.S.Ayyappan, W. Krishnamurthy Rao, R.P. Ananda Alwar; 1989; Sulphur status of soils cropped to coffee; Journal Coffee Research (IND)

 
Các tin đã đăng:
   Bản quyền thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Daklak
   Địa chỉ: 103 Phan Chu Trinh, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
   Website: http://www.dakusta.org.vn
   Email: dakusta@vusta.vn