Loading Please Wait...
MỘT SỐ CÂY PHÂN XANH CÓ TRIỂN VỌNG TẠI VÙNG TÂY NGUYÊN

Cây phân xanh vùng Tây nguyên rất phong phú, có nhiều loại phát triển tốt, năng suất chất xanh cao, song việc nghiên cứu về giá trị cuả chúng để đưa vào sản xuất phục vụ nông nghiệp còn rất hạn chế. Nói chung việc sử dụng phân xanh làm phân bón, cải tạo đất chống xói mòn chưa trở thành tập quán, đồng bào thiểu số các dân tộc vùng Tây nguyên hầu như chưa biết và chưa trồng cây phân xanh. Trong khi đó nhu cầu phân hữu cơ cho các vùng chuyên canh cà phê, cao su và hàng loạt cây trồng khác là rất lớn, rất cấp bách, mặt khác việc phục hồi độ phì nhiêu đất thoái hóa, bảo vệ đất chống xói mòn cũng rất cần phân hữu cơ  nói chung và phân xanh nói riêng

Muồng hoa vàng

Bài viết này giới thiệu kết quả nghiên cứu về tính thích nghi, khả năng sinh trưởng, năng suất chất xanh, giá trị dinh dưỡng và hệ số nhân giống cuả một số cây phân xanh có triển vọng ở Tây nguyên, làm cơ sở tham khảo cho việc khai thác có hiệu quả các giống cây phân xanh trong vùng, góp phần sản xuất nông lâm nghiệp bền vững.

 

1. đặc tính sinh vật học và khả năng thích nghi của các lọai cây phân xanh trong điều kiện Tây Nguyên

 

1.1. đậu hồng đáo:

 

đậu hồng đáo nhập vào Việt nam khoảng những năm 1970. Ưu điểm quan trọng của lọai cây phân xanh này là có thể ăn hạt, trồng quanh năm. Có thể trồng đông đặc hoặc trồng xen với cây chính hàng năm hoặc thời kỳ đầu cuả cây lâu năm. Cây thân leo, dài 3- 4m, lá có 3 lá chét, hoa màu tím, quả hình đũa, buông dài 15 - 20cm, vỏ màu xám, mỗi quả chứa 10 - 15 hạt, hạt tròn màu đỏ nâu, phôi hạt có màu trắng.

 

Chiều cao lúc phủ đất khoảng 60 - 70cm. Thời gian sinh trưởng 120 - 150 ngày. Sau khi mọc 30 ngày cây bắt đầu phân nhánh, 40 ngày thì ra hoa và 70 ngày thì quả chín. So với các loại cây phân xanh khác, đậu hồng đáo có sinh khối chất xanh thấp, song đây là loại cây có hàm lượng dinh dưỡng trong thân lá cao, bộ rễ khỏe với nhiều nốt sần, ít kén đất, có thể phát triển được trên những chân đất thoái hóa. Hơn nữa, hạt đậu hồng đáo là một mặt hàng nông sản có giá trị, nên có thể gieo trồng cho cả 2 mục đích: cải tạo độ phì nhiêu đất và thu hoạch sản phẩm.

 

1.2. đậu mèo Thái lan:

 

            đậu mèo Thái lan mới đưa vào thử chính thức ở Tây nguyên đầu năm 1993, hạt giống lấy từ Viện Thổ nhưỡng Nông hóa. Là cây thân leo hoặc bò, thân phát triển rất mạnh, dài 7 - 8m, nhiều đốt, mỗi đốt mọc một lá, cuống lá dài 25 - 30cm, lá kép có 3 lá chét, hoa tự mọc ở nách lá có màu tím, quả dài 10 - 12cm, có 4 - 6 hạt/quả, có 10 - 16 quả/chùm, lúc chín khô quả có màu đen, rễ phát triển mạnh, có nhiều nốt sần. Sau hơn 3 tháng mọc thì bắt đầu ra hoa, quả chín vào tháng 11 - 12. đậu mèo Thái lan có sinh khối hữu cơ cao. Có thể gieo giữa hai hàng cao su, hoặc trên đất trống đồi trọc để phủ đất và cắt làm phân xanh. Với khí hậu Tây nguyên thì đậu mèo Thái lan hầu như  bị tàn lụi và chết trong mùa khô hạn (tháng 12 đến tháng 4).

 

1.3. Cây kutdu (sắn dây dại):

 

Thân bò hoặc leo, dài  20 - 30m. Có 3 lá chét hình thoi, có lông. Hoa tự ở nách lá, hoa màu tím hoặc hồng, quả hình trụ màu đen, dài 8 - 9cm, có 4 - 6 hạt, khi quả khô và chín rất dễ bị tách ra.

 

Gieo bằng hạt hoặc dâm cành, giai đoạn đầu phát triển rất chậm. Có thể trồng trên đất trống đồi trọc, giữa hai hàng cao su, trong vườn cây ăn quả lâu năm...để phủ đất và cắt làm phân bón.

 

1.4. Stylo santhes:

 

Cây cao 90 – 100 cm, có nhiều đốt, mỗi đốt mọc một lá. Lá kép có 3 lá chét. Hoa tự mọc ở nách lá có màu vàng sọc đỏ. Hoa mọc thành từng chùm nhỏ, sau khi gieo 30 ngày cây bắt đầu phân cành, 65 - 70 ngày thì phủ đất, 104 ngày cây bắt đầu ra hoa, chiều cao thảm phủ lúc ra hoa khoảng 75cm.

 

1.5.đậu kiếm:

 

Cây cao 80 cm. Lá có 3 lá chét hình bầu dục, trơn bóng. Cuống lá dài 10 - 12cm, kích thước lá 10 -11cm x 6 -7cm. Hoa tự tận cùng màu tím mọc thành chùm 16 - 18 hoa, tạo thành 10 - 12 quả. Quả hình kiếm to và dài, kích thước quả 30 - 35cm x 3cm. Quả có chứa từ 14 - 16 hạt màu trắng, hơi dẹt có mồng màu đen, trọng lượng 1000 hạt khoảng 1.500g. Giống này mọc khỏe, sau khi gieo 35 - 45 ngày đã phủ kín hoàn toàn mặt đất. Sinh khối hữu cơ khá cao, sinh trưởng phát triển rất mạnh và có rất nhiều nốt sần. Có thể gieo giữa hai hàng cà phê để phủ đất, cắt làm phân xanh.

1.6.Thảo quyết minh:

Cây thân bụi cao 1 - 1,2 m, lá kép có 3 cặp lá chét hình trái xoan. Hoa mọc đơn ở nách lá có màu vàng. Quả hình trụ dài 15 – 18 cm cong như lưỡi liềm, có chứa từ 12 - 15 hạt. Hạt hình trụ hơi nhọn về hai đầu. Khi chín hạt và quả có màu nâu sẫm.

1.7.Muồng vàng hạt lớn:

            Lá có 3 lá chét. Rễ ăn ngang, nhiều nốt sần. Hoa tự tận cùng màu vàng. Quả có lông mịn, hình quả phồng chứa nhiều hạt màu vàng da cam.  Sau khi  mọc đựơc 30 - 45 ngày cây phát triển chậm lại, sau đó 1 tháng thì phát triển rất nhanh, tăng nhánh phụ nhiều, phủ đất sớm. Sau trồng 3,5 tháng cây bắt đầu ra hoa và kéo dài quá trình này thêm 2 tháng nữa. Năng suất chất xanh cao. Có thể gieo thuần phủ đất, gieo băng chắn gió, chống xói mòn, gieo xen giữa hai hàng cao su, cà phê cắt thân lá ép xanh rất tốt.

1.8.Muồng vàng hạt bé:

            Cây cao 1,5 – 2 m, có một rễ cái ăn sâu và có nhiều rễ phụ ăn ngang, nhiều nốt sần, có 3 lá chét hình thuôn dài. Hoa tự tận cùng, mang nhiều hoa màu vàng tươi. Quả phồng, khi chín có màu đen, quả chứa rất nhiều hạt hình thận màu vàng, chín rải rác từ tháng 10 đến tháng 12. Thời kỳ đầu phát triển chậm, sau đó phát triển nhanh dần. Khả năng phân nhánh mạnh và phủ đất nhanh. Muồng hạt bé sống được nhiều năm. Có thể trồng phủ đất, gieo băng chống xói mòn, chắn gió và che bóng tạm thời, hoặc cắt làm phân bón rất tốt. Năng suất hạt cao, nếu gieo thuần có thể cho 400 - 500kg hạt/ha ngay năm thứ nhất.

1.9.Cây cốt khí:

            Cây cao 1,8 - 2m. Lá kép lông chim, mặt trên lá và ngọn cây có phủ một lớp lông nhung. Cây có rễ phụ ăn sâu và nhiều rễ ngang, có nhiều nốt sần. Hoa tự tận cùng mang nhiều hoa màu trắng. Quả dẹp hình kiếm có nhiều lông màu nâu, quả chín dễ tách hạt rơi xuống nên phải thu hái đúng lúc. Hạt hình bầu dục và màu vằn xám, có mồng màu trắng.

            Cây to khỏe, sản lượng chất xanh cao. Khoảng 40 - 50 ngày sau gieo cây phát triển chậm, yếu sau đó phát triển nhanh, nhanh nhất là sau mọc 90 ngày. đầu mùa khô (tháng 12) lá già rụng nhiều tạo thành một lớp thảm mục.

            Cốt khí là cây phân xanh lý tưởng đối với vùng núi, mọc khỏe, năng suất chất xanh cao, dễ gieo trồng và có thể phát triển tốt trên nhiều loại đất. Hàm lượng dinh dưỡng trong thân lá cao. Cốt khí gieo thành băng chống xói mòn, che bóng, chắn gió. Có thể gieo thuần cắt làm phân bón nhiều đợt trong năm, gieo xen vào hàng cà phê, cao su để cải tạo đất.

1.10. Cây Fleimingia:

            Cây cao 1,8 - 2,2m, lá kép có 3 lá chét hình trái xoan. Lá non được bao phủ bởi một lớp lông nhung mịn màu trắng. Quả phồng hình bầu dục hơi nhọn về hai đầu. Quả

1.11.Cây đậu săng:

            Cây cao 2 - 3m. Lá có 3 lá chét hình mác. Hoa màu vàng. Quả có 2 rãnh xiên nhiều lông, đầu nhọn, có 3 - 4 hạt hình cầu màu vằn, nâu đỏ hay nâu hung. đậu săng có thể sống nhiều năm, chụi đựng được khô hạn. Có bộ rễ phát triển rất mạnh, sâu, có nhiều nốt sần.

            Sinh khối đậu săng cao hơn các loại cây phân xanh thân đứng khác. Hàm lượng dinh dưỡng trong thân lá rất cao. Cây phát triển nhanh từ sau khi mọc, sau 4 - 5 tháng thì ra hoa, quả chín vào tháng 12, 1. Quả chứa 3 - 4 hạt, khi quả chín hạt có màu đen. Hoa màu tím mọc thành chùm ở ngọn.

2.Hàm lượng dinh dưỡng, năng suất chất xanh và nốt sần của các giống cây phân xanh

Trong 3 yếu tố N, P, K thì đạm chiếm hàm lượng cao nhất, tiếp đến là kali và thấp nhất là lân. Nhóm cây thân đứng có hàm lượng đạm và kali trong thân lá cao hơn hẳn các cây nhóm  thân bò và thân bụi. Hàm lượng đạm của nhóm này biến động 3.15 - 3.65%, còn kali là  0.91 - 1.50%. Lượng lân của nhóm thân đứng ở mức trung bình và ít có sự sai khác giữa các loại cây (biến động 0.52 - 0.60%). Giống có thành phần dinh dưỡng trong thân lá cao nhất ở đây là đậu săng (3.65%N, 0.60%P, 1.50%K), tiếp đến là cốt khí (3.50%N, 0.52%P, 1.10%K).

            Sự khác nhau về năng suất chất xanh giữa các giống cây được nghiên cứu là rất lớn. Trong đó đậu mèo Thái lan tỏ ra có ưu thế hơn hết với sinh khối 40 tấn/ha, tiếp đến là kut du, đậu săng với 35 - 35,5 tấn/ha. Stylo và đậu hồng đáo là những cây có sinh khối thấp nhất, chỉ với 14,7 - 18.4 tấn/ha.

            đậu mèo Thái lan và đậu kiếm có số lượng nốt sần/cây cao nhất (80 - 90 nốt). Tiếp đến là thảo quyết minh, đậu hồng đáo và stylo, biến động trong khoảng 43 - 50 nốt/cây.  Lượng nốt sần của các cây trong nhóm thân đứng như muồng hoa vàng, đậu săng, fleimingia thấp hơn so với thân bò và thân bụi, biến động trong khoảng 15 - 22 nốt/cây.

3.Năng suất hạt và hệ số nhân giống

            Nhìn chung các giống cây thuộc nhóm thân bụi như stylo, đậu kiếm, thảo quyết minh có tỉ lệ nảy mầm thấp, với 61,3 – 82,5%. Các giống thuộc nhóm thân bò và thân đứng đều có tỉ lệ nảy mầm hơn 90%.

Lượng hạt giống gieo cuả các loại cây phân xanh rất khác nhau. Có loại chỉ cần 0,4 - 0.5kg/ha như stylo, kutdu; có loại cần đến hơn 30kg/ha như đậu kiếm. Năng suất hạt thu được biến động từ 250kg/ha đến 1550kg/ha, trong đó các giống cho năng suất hạt cao là: đậu hồng đáo: 1447 kg/ha, đậu mèo Thái Lan: 1550 kg/ha, đậu săng: 1500 kg/ha. Hệ số nhân giống biến động từ 16 đến 776 lần. Những giống cây phân xanh có nguồn gốc hoang dại như kutdu, thảo quyết minh có hệ số nhân giống cao, thể hiện sự thich nghi tốt của chúng trong điều kiện sinh thái vùng Tây Nguyên.

Trình Công Tư

Trung tâm NC đất, PB và MT Tây Nguyên

 

 

 
Các tin đã đăng:
   Bản quyền thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Daklak
   Địa chỉ: 103 Phan Chu Trinh, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
   Website: http://www.dakusta.org.vn
   Email: dakusta@vusta.vn