Loading Please Wait...
Nâng cao năng suất, chất lượng cho cà phê ở Đắk Lắk

I. Những thách thức của ngành cà phê trong những năm tới:

Đắk Lắk có diện tích cà phê gần 180.000ha nhiều nhất cả nước, sản lượng hàng năm 400.000 tấn, chiếm 40% sản lượng cà phê của cả nước và là tỉnh có năng suất cà phê cao nhất. Ngành cà phê Việt Nam nói chung đã có một bước phát triển nhanh chóng cả về diện tích sản lượng và năng suất. Bên cạnh những thành tựu đạt được, ngành cà phê Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức đe dọa đến sự phát triển bền vững trong thời gian tới.

1. Nhiều diện tích cà phê đã chuyển sang giai đoạn già cỗi. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội cà phê - Ca cao Việt Nam thì trong tổng số trên 500.000ha cà phê của cả nước hiện nay chỉ có khoảng 274.000ha, chiếm 54,8% được trồng ở giai đoạn từ năm 1993, trong độ tuổi từ 10 - 15 năm; 139.600 ha được trồng trong giai đoạn từ 1988 - 1993, đến nay ở tuổi từ 15 - 20 năm và 86.400 ha trồng từ trước năm 1988 đến nay đã trên 20 năm tuổi. Như vậy, trong thời gian 5 - 10 năm tới sẽ có trên 50% diện tích cà phê của Việt Nam đã hết thời kỳ kinh doanh có hiệu quả, phải cưa đốn phục hồi hoặc phải trồng lại.

2. Nhiều vùng cà phê trồng không đúng vùng quy hoạch. Từ 1994 đến nay, do giá cả tăng cao nên người dân đã nhanh chóng mở rộng thêm nhiều diện tích cà phê. Hầu hết những diện tích trồng mới này không nằm trong vùng quy hoạch, chủ yếu là được trồng trên những địa bàn không thích hợp như tầng đất nông, độ dốc lớn, nơi thiếu nguồn nước tưới v.v. . và không ít trong diện tích đó là đất rừng. Do được trồng ở những vùng không thích hợp nên do năng suất đạt thấp và chi phí sản xuất tăng cao, và còn đe dọa đến tính bền vững của những diện tích cà phê còn lại do môi trường, nguồn nước bị hủy hoại.

3. Trồng, chăm sóc không đúng quy trình kỹ thuật. Trong thời gian qua nhiều năm giá cà phê lên cao, người trồng cà phê đã loại bỏ hoàn toàn cây che bóng, đồng thời tăng cường bón phân hóa học, tăng lượng nước tưới v.v . . nhằm mục đích đạt được năng suất tối đa. Những biện pháp thâm canh cao độ này không những đã làm cho cây nhanh chóng bị kiệt sức, mau già cỗi, kích thích quả chín sớm làm giảm chất lượng mà còn làm cho môi trường đất bị ô nhiễm nghiêm trọng, phát sinh nhiều loại sâu, bệnh hại, trong đó đặc biệt là nấm bệnh và tuyến trùng hại rễ. Hiện nay, tuyến trùng hại rễ đang là một trong những đối tượng gây hại nghiêm trọng nhất đối với cây cà phê được trồng lại trên diện tích cà phê sau khi được thanh lý.

4. Phần lớn diện tích được trồng bằng hạt do nông dân tự chọn giống. Từ năm 2000 trở về trước hầu như toàn bộ diện tích cà phê của Việt Nam đều được trồng bằng hạt, trong đó phần lớn là người nông dân tự chọn hạt một cách tự phát. Do được trồng bằng hạt lại không qua một quy trình chọn lọc, nhân giống theo đúng chuẩn mực nên tỷ lệ cây cho năng suất thấp, hạt bé, bị nhiễm bệnh gỉ sắt trong vườn chiếm một tỷ lệ khá cao. đặc biệt là các cây trong cùng một vườn chín không đồng đều nhau làm tăng số lần thu hái, chi phí thu hoạch, chế biến tăng cao và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.Trong những năm tới cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lực lượng lao động trong sản xuất nông nghiệp sẽ ngày càng giảm dần, việc thiếu hụt lao động nhất là vào thời kỳ thu hoạch sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm do phải cắt giảm số lần hái. Cùng với sự thiếu hụt lao động và chi phí nhân công tăng cao, giá cả vật tư phân bón, xăng dầu v.v. . cũng đang có xu hướng ngày càng tăng sẽ làm cho chi phí sản xuất tăng lên, lợi nhuận thu được từ sản xuất cà phê sẽ ngày một giảm sút.

5. Sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, thiếu sự liên kết giữa "4 nhà'? Trên 80% diện tích cà phê cả nước do các hộ nông dân trực tiếp quản lý diện tích nhỏ, lẻ trung bình từ 0,5 - 1ha và mang tính tương đối độc lập. Số hộ gia đình có diện tích lớn và sản xuất dưới hình thức trang trại chiếm một tỷ lệ không đang kể. Do hình thức tổ chức sản xuất dưới dạng hộ gia đình phân tán, nhỏ lẻ và tương đối độc lập dẫn đến chi phí đầu tư tăng cao, sản phẩm làm ra không đồng đều và kém ổn định. Người nông dân khó tiếp cận được với những tiến bộ khoa học công nghệ, thị trường cũng như các dịch vụ khác như vay vốn tín dụng, ngân hàng v.v. . từ đó dẫn tới việc xây dựng thương hiệu, chứng chỉ chất lượng hàng hóa v.v.. khó có thể thực hiện được.

II. Một số giải pháp khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế và tính bền vững :

1. Chuyển đổi những diện tích trồng không đúng quy hoạch, đất đai không phù hợp, thiếu nguồn nước tưới, bị tuyến trùng hại rễ sang cây trồng khác. để cho cây cà phê phát triển được bền vững, ĐắkLắk cần có biện pháp giảm bớt diện tích và giữ ổn định ở mức khoảng từ 140. 000 - 150.000ha. So với diện tích cà phê hiện nay thì trong những năm tới ĐắkLắk cần phải chuyển đổi khoảng trên 30.000ha cà phê sang trồng các loại cây khác. Những diện tích cần phải chuyển đổi trước hết là những diện tích trồng không đúng vùng quy hoạch, vùng có tầng canh tác cạn, đất dốc trên 15o, thiếu hụt nguồn nước tưới và cả những vùng bị tuyến trùng và bệnh rễ gây hại nặng. Trừ những vùng có tầng canh tác mỏng, mạch nước ngầm dâng cao, những vùng đất khác nên chuyển đổi sang trồng ca cao, mặc ca hoặc cây ăn quả như cây bơ v.v..

2. Thay thế dần các giống cà phê cũ bằng các dòng vô tính. Trong những năm gần đây nhiều dòng vô tính cà phê vối cho năng suất cao, cỡ hạt lớn, kháng được bệnh gỉ sắt và chín muộn do Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên chọn lọc đã được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận và cho phép phổ biến ra sản xuất. Trước đây đối với những diện tích cà phê già cỗi hết thời kỳ kinh doanh, chúng ta thường là tiến hành cưa và nuôi chồi tái sinh để chuyển sang chu kỳ kinh doanh thứ 2. Việc cưa đốn phục hồi theo cách này tuy ít đầu tư, nhưng không cho phép thay đổi giống mới nên năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế ở chu kỳ 2 không cao. Vì vậy đối với những diện tích cà phê già cỗi sau khi cưa phục hồi cần tiến hành ghép cải tạo bằng các dòng vô tính chọn lọc. Việc cưa ghép thay thế bằng các dòng vô tính sẽ tạo ra vườn cây có khả năng cho năng suất cao, kích thước hạt lớn, kháng cao với bệnh gỉ sắt và đặc biệt là vườn cây chín đồng đều và tập trung từ đó không những giảm được số lần thu hái mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chế biến sau này để nâng cao chất lượng.

3. Tăng cường cây che bóng và bón phân hữu cơ cho vườn cây, giảm phân bón hóa học. Cà phê vối vốn là một loại cây ưa bóng nhẹ, nên cần phải trồng cây che bóng. Việc loại bỏ cây che bóng tuy có làm cho năng suất của vườn cây tăng lên nhưng đống thời cũng làm cho chu kỳ kinh doanh của cây ngắn lại do bị kiệt sức và nhiều tác động tiêu cực khác. Thực tế cho thấy do bị loại bỏ cây che bóng nên thời gian sinh trưởng và phát triển của quả cà phê ngày cũng có xu hướng ngắn lại. Thời gian sinh trưởng và phát triển của quả cà phê ngắn lại, chín sớm không những ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng do hạt không đủ thời gian để tích lũy chất dinh dưỡng cũng như hình thành các hợp chất thơm mà còn đẩy thời gian thu hoạch sớm lên trùng vào những tháng gần cuối mùa mưa, gây khó khăn cho việc thu hái, phơi sấy. Cũng do thu hái sớm làm cho cây phân hóa mầm hoa sớm, đẩy cây nhanh chóng rơi vào giai đoạn khô hạn sớm từ đó tăng thêm một lần tưới nước sớm. để hạn chế những tác động tiêu cực nêu trên thì việc trồng cây che bóng trong vườn cà phê là một giải pháp hiệu quả nhất. để tăng thu nhập có thể trồng xen các loại cây ăn quả như sầu riêng, bơ, có thể kết hợp vừa làm cây che bóng vừa làm cây choái sống cho cây hồ tiêu như cây muồng đen, keo dậu. Một loại cây mới gần đây có thể được coi là có nhiều tiềm năng nhất cho vùng cà phê ở Tây Nguyên đó là cây Mac ca (Macadamia integrifolia) đang được Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên trồng thử nghiệm. Cây Mac ca không chỉ có tác dụng che bóng, chắn gió cho cà phê mà còn là một loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế rất cao. Hạt cây Mac ca có hàm lượng dầu rất cao trên 74%, không chứa Cholesterol nên là loại thực phẩm cấp cao rất được thị trường thế giới ưa chuộng.

Cùng với việc loại bỏ cây che bóng, việc bón quá nhiều và không cân đối các loại phân hóa học trong thời gian qua đang là nguyên nhân chính ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của ngành cà phê trong thời gian tới. Việc sử dụng quá nhiều và không cân đối các loại phân bón khoáng không những làm tăng chi phí do lãng phí mà còn gây tác hại đến môi trường đất. Những kết quả nghiên cứu cho thấy trên nhiều vườn cây hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng, đặc biệt là Kaly đã tăng từ 4 - 8 lần so với lúc ban đầu mới trồng cà phê. Việc lạm dụng phân bón hóa học đang làm cho nhiều loại sâu bệnh hại phát sinh, trong đó đặc biệt là tuyến trùng hại rễ. Thực tế cho thấy nhiều vườn cà phê sau khi thanh lý đã không thể trồng lại cà phê do bị tuyến trùng gây hại. để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng phân bón khoáng thì ngoài việc tăng cường bón phân hữu cơ, phân bón khoáng qua lá cần phải bón đúng liều lượng, cân đối giữa các nguyên tố trên cơ sở phân tích độ phì nhiêu thực tế trong đất, hàm lượng dinh dưỡng trong lá cũng như khả năng sinh trưởng, phát triển của vườn cây.Việc sử dụng các loại phân bón qua lá nhằm bổ sung thêm các nguyên tố vi lượng cũng hết sức cần thiết nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc bón từ 2 - 4kg phân bón lá NUCAFE có làm tăng năng suất từ 10 – 20 %.

4. Hạn chế sử dụng thuốc hóa học và giảm lượng nước tưới. Việc kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp như sử dụng các dòng vô tính có khả năng kháng bệnh, tăng cường cây che bóng, phân bón hữu cơ, phân bón khoáng qua lá v.v. . là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế các loại sâu bệnh gây hại, giảm thiểu việc sử dụng các loại thuốc hóa học. Việc sử dụng thuốc, đặc biệt là các loại thuốc trừ sâu chỉ sử dụng khi mức độ gây hại vượt ngưỡng gây hại kinh tế và chỉ phun cho những cây bị sâu hại, không phun cho cả vườn nhằm bảo vệ các loại thiên địch. Tránh phun thuốc phòng trừ sâu hại theo định kỳ. Sử dụng thuốc theo đúng chủng loại, liều lượng, đúng cách và đúng thời điểm cho từng loại đối tượng sâu, bệnh hại.

Tưới nước là một trong những biện pháp hết sức quan trọng ảnh hưởng quyết định

đến năng suất, chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế trong việc kinh doanh cây cà phê, trong đó đặc biệt là lần tưới đầu. Nếu tưới quá sớm khi cây chưa bước vào giai đoạn khô hạn khủng hoảng thiếu nước, mầm hoa chưa phân hóa đầy đủ không những lãng phí một lần tưới mà còn làm cho hoa nở không tập trung, nở làm nhiều đợt dẫn đến quả chín sớm, không tập trung, gây khó khăn và tốn kém cho khâu thu hái, chế biến. Lần tưới đầu chỉ tiến hành khi nào thấy cây đã thực sự khô hạn, mần hoa đã phân hóa đầy đủ thành "mỏ sẻ già". Nhiều quan niệm sai lầm cho rằng tưới càng nhiều nước và nhiều lần thì năng suất vườn cây càng cao. Những nghiên cứu gần đây cho thấy lượng nước tưới lần đầu khoảng 500 - 550 m3/ha và ở các lần tưới sau khoảng 450 m3/ha với chu kỳ tưới từ 20 - 25 ngày là hoàn toàn đảm bảo cho vườn cây sinh trưởng phát triển bình thường và cho hiệu quả kinh tế cao nhất. Việc tăng cường cây che bóng, bón phân hữu cơ và tủ gốc giữ ẩm cũng là những biện pháp hết sức quan trọng trong việc tiết kiệm chi phí tưới nước cho cây cà phê. Bên cạnh những phương pháp tưới nước theo truyền thống hiện nay cần nghiên cứu áp dụng công nghệ tưới nước hiện đại kết hợp với bón phân như tưới nhỏ giọt nhằm tiết kiệm nước và chi phí lao động.

5. Nâng cao chất lượng. Công nghệ chế biến không làm tăng thêm chất lượng của hạt cà phê vốn đã dược hình thành trước đó trên đồng ruộng mà chỉ cố gắng duy trì chất lượng vốn có sẵn. Thực tế trong những năm qua và hiện nay chất lượng cà phê Việt Nam bị ảnh hưởng nhiều nhất là quá trình thu hái và phơi sấy. Việc thu hái không đúng tầm chín không những ảnh nghiêm trọng đến chất lượng mà còn làm giảm năng suất. Vì vậy một trong những giải pháp để nâng cao năng suất và chất lượng là phải thu hái đúng tầm chín. Tuy nhiên việc thu hái đúng tầm chín đòi hỏi nhiều lao động trong thời kỳ thu hoạch, đặc biệt là trong những năm tới khi đất nước trở thành một nước công nghiệp thì vấn đề thiếu hụt lao động trong nông nghiệp nói chung và trong ngành cà phê nói riêng ngày càng trầm trọng thêm. Do đó để nâng cao chất lượng, giảm chi phí giá thành, khắc phục tình trạng thiếu hụt lao động trong mùa thu hoạch thì việc áp dụng đồng bộ các biện pháp như sử dụng các dòng cà phê vối vô tính, biện pháp bón phân, tưới nước như đã nêu trên là biện pháp hiệu quả, bền vững nhất.

6. Tổ chức lại sản xuất và tăng cường mối liên kết giữa “4 nhà”. Trong điều kiện hội nhập hiện nay người tiêu thụ cà phê đòi hỏi sản phẩm phải có xuất xứ rõ ràng và phải có giấy chứng nhận, vì vậy việc tổ chức lại sản xuất cho các hộ nông dân, hình thành các hợp tác xã trong ngành cà phê là hết sức cần thiết. Chỉ có tổ chức lại sản xuất thì mới có điều kiện áp dụng được tiến bộ khoa học, hỗ trợ tài chính, khuyến nông, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm cũng như xây dựng thương hiệu hoặc giấy chứng nhận chất lượng cho từng vùng nguyên liệu. Và chỉ có tổ chức lại sản xuất thì mối liên kết giữa “4 nhà” mới trở thành hiện thực.

TS. Hoàng Thanh Tiệm

Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên
 
Các tin đã đăng:
   Bản quyền thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Daklak
   Địa chỉ: 103 Phan Chu Trinh, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
   Website: http://www.dakusta.org.vn
   Email: dakusta@vusta.vn