Loading Please Wait...
Một vài suy nghĩ về đội ngũ trí thức ở tỉnh Dak Lak hiện nay
1. Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - câu nói nổi tiếng ấy của một danh nhân thời nhà Lê ( Thân Nhân Trung - 1442 ) đã trở thành truyền thống của bao thế hệ người Việt Nam chúng ta về sự nhìn nhận, đánh giá và hết mực tôn trọng đối với trí thức. Trong thực tế, sự đóng góp của giới trí thức trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước của dân tộc ta từ bao đời nay là vô cùng to lớn.

Từ khi đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo Cách mạng, qua các thời kỳ kháng chiến chống ngoại xâm đến hoà bình xây dựng đất nước, đảng ta luôn luôn coi trọng trí thức và đã có nhiều chủ trương, chính sách tập hợp, phát huy đội ngũ này đóng góp rất quan trọng cho những thành tựu của sự nghiệp cách mạng.

Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc, ở nước ngoài như thế, ở Việt Nam càng như thế …địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam sẽ là cùng với toàn thể đồng bào kiến thiết một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất và độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”*

Với tinh thần đó, đảng ta đặt trí thức thành một bộ phận trong khối liên minh Công – Nông – Trí, là lực lượng nòng cốt của cách mạng. đảng cũng đã có nhiều Nghị quyết, chỉ thị về vấn đề trí thức, bao gồm cả những lĩnh vực hoạt động có liên quan đến đội ngũ này như giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ …

được biết, Ban chấp hành Trung ương đảng ( khoá X) trong Hội nghị lần thứ 7 sắp tới sẽ thảo luận và ban hành một Nghị quyết về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Như vậy, một lần nữa vấn đề trí thức lại được đặt lên bàn nghị sự của Trung ương đảng, đặc biệt là trong bối cảnh và xu thế mới của thời đại.

2. Một đôi nét về đội ngũ trí thức ở Dak Lak

Trong các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp trước đây cũng như trong Cách mạng Tháng Tám và cuộc kháng chiến chống Pháp tiếp theo đó, những người trí thức dân tộc thiểu số có vai trò rất quan trọng, phần lớn họ là những thủ lĩnh hoặc là người tuyên truyền, đi đầu trong các phong trào ấy. Những tên tuổi như Y út, Y Jút, Y Ngông, Y Nuê, Y Wang, Y Tlam … chính là các trí thức tiêu biểu gắn liền với nhiều sự kiện, nhiều giai đoạn cách mạng và kháng chiến ở tỉnh Dak Lak. Cùng với trí thức người dân tộc tại chỗ, nhiều trí thức ở miền xuôi lên, nhất là các chiến sỹ cộng sản từ nhà đày Buôn Ma Thuột ra, đã sát cánh cùng nhau, tổ chức giành chính quyền thắng lợi ở Dak Lak trong Cách mạng Tháng Tám và xây dựng chính quyền mới của ta trong những ngày còn trứng nước.

Từ khi đất nước thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Dak Lak là một địa bàn quan trọng, có nhiều tiềm năng và điều kiện để phát triển kinh tế xã hội, nên đội ngũ trí thức của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực được quy tụ đông đảo và trưởng thành nhanh chóng về cả số lượng và chất lượng

đội ngũ trí thức trong tỉnh hiện nay (tạm lấy theo tiêu chí là tốt nghiệp Cao đẳng và đại học trở lên): 20,667 người; trong đó người dân tộc thiểu số có 6.1%; Tiến sĩ 0,36% (74 người), Thạc sĩ 2,22%, đại học 54,34%, Cao đẳng 43,12%.

Phân bổ theo lĩnh vực công tác:

- Sự nghiệp: 74,36% (chủ yếu là giáo dục, y tế )

- Quản lý nhà nước: 7,97%

- đào tạo, nghiên cứu: 4,07%

- Doanh nghiệp và các tổ chức khác: 13,64%

Trong những năm qua đội ngũ này đã có những nỗ lực và đóng góp quan trọng cho sự phát triển của tỉnh, làm cho kinh tế-xã hội có bước tiến khá mạnh mẽ; đặc biệt là sự hoạt động của họ trên các lĩnh vực nông nghiệp (nhất là tác động khoa học kỹ thuật vào cà phê, cao su), công nghệ sinh học, công nghệ chế biến nông lâm sản, giáo dục, y tế, khai thác và bảo tồn văn hoá dân tộc …

Bên cạnh đó, cũng có những bất cập, tồn tại mà chúng ta cần nhìn nhận để có các chính sách, giải pháp phù hợp nhằm đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và phát huy đội ngũ này được tốt hơn. đó là:

a. Về phần đội ngũ trí thức:

- Trình độ và lòng nhiệt huyết với sự nghiệp, tạm nhận xét có 2 loại:
+ Số đã cao tuổi (được đào tạo trong 2 cuộc kháng chiến): Kiến thức có nhiều hạn chế do điều kiện đào tạo, học tập có nhiều khó khăn (trừ số được đào tạo ở nước ngoài), nhưng ý thức phục vụ và trách nhiệm cao, làm việc cẩn trọng, nghiêm túc, chân thành. Tuy vậy, phong cách làm việc còn có phần theo kiểu “bao cấp”, thiếu năng động, sáng tạo. Mặt khác, do tuổi cao sức yếu nên khó có điều kiện vươn lên hơn nữa.

+ Số trẻ tuổi (đào tạo từ sau ngày thống nhất đất nước): được đào tạo trong điều kiện tốt hơn, kiến thức rộng hơn, lại được tiếp xúc với các phương tiện hiện đại và xu thế hội nhập (công nghệ thông tin, ngoại ngữ). Tuy vậy, trong công việc và suy nghĩ lại thiếu chiều sâu, chưa thật chín chắn, và còn có phần tư duy theo “kinh tế thị trường”, không ít người chưa thiết tha với nghề nghiệp và kiến thức đã học (học ngành này nhưng đi làm việc theo chuyên môn ngành khác, chủ yếu tìm những việc có thu nhập cao). Do đó, rất lãng phí “chất xám” và cũng phí phạm một nguồn tài chính rất lớn của gia đình và xã hội để đầu tư cho việc học của họ.

Cả 2 lọai đối tượng trên, có một nhược điểm chung là khi đào tạo rất ít gắn với thực tiễn (kể cả chỉ “học chay”) nên khi ra công tác thì ít phát huy được tác dụng đóng góp cho sự phát triển. Các đề tài nghiên cứu còn rất ít và chất lượng thấp, không đem ra áp dụng được (có nhiều đề tài đã được kết luận và nghiệm thu, nhưng bị “xếp vào tủ”, không ai ứng dụng hoặc không có điều kiện ứng dụng).

- điều kiện và môi trường cho trí thức “dụng võ” còn thiếu, nhất là các ngành kinh tế, các doanh nghiệp còn chậm phát triển; các ngành công nghệ cao hầu như chưa có nên không sử dụng được nhân tài. Việc ta có học cách làm của một số tỉnh thành bạn “trải thảm đỏ” với nhiều ưu đãi để thu hút những người có học hàm, học vị cao hay không cũng nên cân nhắc kỹ, vì đã có không ít nơi do chưa có điều kiện cho những người đó làm việc được phù hợp, thu nhập thấp nên họ phải chuyển đi nơi khác và các khoản chi cho “chính sách ưu đãi” không đem lại hiệu quả mong muốn.

- Bên cạnh đó, thì những tiêu cực xã hội và mặt trái của cơ chế thị trường cũng có tác động đến một bộ phận của đội ngũ này, nhất là trong các lĩnh vực “nhạy cảm” với xã hội như giáo dục, y tế; hoặc những nhược điểm về phong cách, về quan hệ đối xử trong công vịêc và sinh hoạt của một số người trong giới văn nghệ sỹ, khoa học kỹ thuật … đã để lại những hình ảnh không đẹp trong con mắt của người dân. Vì thế mà “con sâu làm rầu nồi canh”, phải chăng nó làm cho có cái gì đó như là sự mặc cảm của không ít người đối với người trí thức (kiểu như trước kia xem trí thức như là “tiểu tư sản”) .

b. Tình trạng kiến thức và chất lượng của đội ngũ trí thức thấp có nguyên nhân đầu tiên và rất quan trọng là từ những yếu kém, bất cập của công tác giáo dục - đào tạo:

- Quy hoạch và kế hoạch không bám sát và phù hợp với thực tiễn (vừa thừa lại vừa thiếu), đào tạo ra trường không được sử dụng, nhiều người học xong lại bị “bơ vơ”, không có việc làm, trở thành “trí thức nửa mùa”, không ít người trở thành doanh nhân hoặc làm bất cứ nghề gì để kiếm sống (kế cả đi làm lao động phổ thông, đi tiếp thị hàng hóa). Hiện tượng “chảy máu chất xám” là khá phổ biến.

- Phương pháp dạy và học có nhiều khiếm khuyết, kiến thức bị “hổng”, kể cả từ những điều cơ bản (thậm chí không ít trường hợp sai cả chính tả, ngữ pháp). Cộng với một số tiêu cực như : học vì bằng cấp, dạy vì tiền, “học tại gường, thi tại quán” nên nhiều người học xong ra trường không làm được việc, không phát huy tác dụng.

- Về chính sách đối với các đối tượng (như người dân tộc, vùng sâu, vùng xa, con em thương binh liệt sỹ...) được ưu tiên, chiếu cố bằng cách “ cộng thêm điểm” khi tuyển sinh hoặc thi tốt nghiệp cũng nên nghiên cứu lại, vì vô hình trung đã làm hạ thấp trình độ và thực tài của họ, không đạt tiêu chuẩn của học hàm, học vị, thành “hữu danh vô thực”. (đáng lẽ phải đầu tư cho họ học giỏi ở bậc phổ thông để khi vào trường đại học, cao đẳng là phải theo trình độ chung).

c. Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp để thu hút, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức (ở tỉnh ta hiện nay có trên 20 Hội thuộc loại hình này), phần lớn chưa được sự quan tâm chỉ đạo của các cơ quan hữu quan, nhiều Hội chuyên ngành chưa được các Sở, Ngành chuyên môn tương ứng hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động. Cộng vào đó là bản thân các Hội cũng chưa tích cực, chủ động và năng động; Ban chấp hành của các Hội hoạt động còn yếu, nên vai trò và “tiếng nói” của đội ngũ trí thức còn hạn chế, chưa được phát huy mạnh mẽ.

3. đề xuất một số giải pháp:

3.1 Cần có nhận thức đúng về đội ngũ trí thức.

Tiếp tục khẳng định trí thức là một lực lượng nòng cốt của cách mạng, một bộ phận khắng khít trong khối liên minh Công – Nông – Trí. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và đi dần vào nền kinh tế tri thức, thì vai trò của trí thức càng quan trọng và to lớn. Các cơ quan lãnh đạo, quản lý và toàn xã hội cần có sự nhìn nhận và đánh giá đúng về đội ngũ này, tạo điều kiện cho họ phát huy tài năng để đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước, tôn trọng và nâng đỡ mọi tài năng sáng tạo; đồng thời loại bỏ định kiến và sự đánh giá chưa thật chuẩn xác những gì không thuộc về bản chất và phẩm chất của họ.

3.2 Chấn hưng giáo dục

để có được đội ngũ trí thức phải bắt đầu từ sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Phải chấn hưng và chấn chỉnh ngay công tác này, từ chủ trương, phương pháp đến việc chống các biểu hiện tiêu cực mà nay đã đến mức khá nghiêm trọng. Trước hết phải có người thầy giỏi và có tâm, “thầy ra thầy, trò ra trò”, phải bằng biện pháp mạnh và kiên quyết để chống cho được tình trạng “vì tiền” trong ngành giáo dục hiện nay.

3.3 đào tạo và đào tạo lại đội ngũ trí thức.

Hệ thống giáo dục của chúng ta hiện nay có nhiều hạn chế, bằng cấp không được thế giới công nhận và phần lớn sinh viên mới ra trường thường không đáp ứng được yêu cầu công việc. để có những người trí thức phù hợp với xu thế của thời đại ngày nay, chúng ta cần có chính sách đào tạo một cách cơ bản, đồng thời cần phải xây dựng các trường đại học có đẳng cấp quốc tế tại Việt Nam. Việc đào tạo (và đào tạo lại) đội ngũ trí thức cũng phải được xem là “quốc sách” hàng đầu, có biện pháp tốt và đầu tư thích đáng, trước hết là cho sự nghiệp Giáo dục (ở tất cả các bậc học).

Song song với nó, cần có biện pháp giáo dục, rèn luyện đội ngũ này để đảm bảo có đủ tài và đức, làm cho họ có cả cái tầm và cái tâm (như các bậc trí thức ở hai cuộc kháng chiến trước đây mà mãi mãi vẫn là những tấm gương sáng).

3.4 Tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ trí thức cống hiến

đảng và Nhà nước cần có các chủ trương, chính sách để phát triển kinh tế - xã hội và khoa học - công nghệ, tạo môi trường và điều kiện để thu hút, sử dụng nhân tài. Từ đó, làm cho họ có mức thu nhập xứng đáng với chất xám bỏ ra. Khi có được một môi trường làm việc phù hợp, người trí thức sẽ có khả năng sáng tạo tốt hơn, năng suất làm việc cao hơn và xã hội sẽ có những sản phẩm trí tuệ tốt, hữu ích hơn.

3.5 Tôn vinh đội ngũ trí thức.

Việc tôn vinh, tưởng thưởng những trí thức có thực tài cần được quan tâm đúng mức. Những trí thức có nhiều cống hiến khi được tôn vinh họ sẽ cảm thấy được khích lệ và có được niềm vui trong công việc, tạo động lực làm việc mạnh mẽ hơn. đối với các vấn đề lớn và quan trọng của đất nước, của địa phương nên tranh thủ ý kiến tham gia đóng góp của trí thức, như vậy cũng là một nguồn động viên và thể hiện sự coi trọng, tin cậy đối với họ, sẽ phát huy tốt khả năng của đội ngũ này

*Hồ Chí Minh - Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, H.1996, tập 5, trang 156.

Nguyễn An Vinh
(Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH & KT tỉnh)

 
   Bản quyền thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Daklak
   Địa chỉ: 103 Phan Chu Trinh, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
   Website: http://www.dakusta.org.vn
   Email: dakusta@vusta.vn