Cả cuộc đời vì cách mạng và nền giáo dục, khoa học Việt Nam

Cả cuộc đời vì cách mạng và nền giáo dục, khoa học Việt Nam

19/08/2015 15:38:37 GMT+7

Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn là một học giả uyên thâm, một nhà bác học với kiến thức vừa bao quát, vừa sâu rộng trên nhiều lĩnh vực khoa học xã hội: Sử học, văn học, triết học, ngôn ngữ học, dân tộc học, luật học, giáo dục học và có vốn hiểu biết phong phú về văn hóa phương Đông cũng như phương Tây. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là hình ảnh cao đẹp của một nhà trí thức cách mạng suốt đời phấn đấu và cống hiến vì độc lập tự do, vì tiền đồ tươi sáng của đất nước.

Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn.

Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn.

Trọn đời vì cách mạng
 
Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn sinh ngày 1/8/1905 trong một gia đình nhà nho nghèo ở thành phố Vinh, Nghệ An. Ngày từ năm 1924, 1925, khi còn đang là sinh viên Văn khoa tại Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương (Hà Nội), ông đã viết báo đả kích chế độ thực dân cũng như tham gia tích cực phong trào yêu nước đòi thực dân Pháp thả Phan Bội Châu. Ông vào Sài Gòn viết báo, sáng lập tờ Le Nhà quê có nội dung chống Pháp nên bị chúng bắt giam nửa năm. Năm 1927, ông bị đưa ra xử với một năm tù án treo. Sau đó, ông được mời làm chủ bút tờ Le An Nam, một tờ báo nổi tiếng khắp Bắc, Trung, Nam công khai tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản. Ông chủ trương cho đăng trên báo Bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Mác và Ăng-ghen và Yêu sách của Nguyễn Ái Quốc ở Hội nghị Vecxay. Vì vậy, ông lại bị chính quyền thực dân bắt và kết án hai năm tù treo.
Sau khi được trả tự do vào năm 1928, nhờ sự giúp đỡ của bè bạn, ông sang Pháp học và tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước. Là một trí thức trẻ, thông minh, giàu nhiệt huyết, ông được Đảng Cộng sản Pháp giới thiệu sang học ở trường Đảng Liên Xô. Năm 1930, nhờ sự giới thiệu của Đông Phương bộ Quốc tế Cộng sản, ông được làm nghiên cứu sinh sử học tại Đại học Đông Phương.
Có thể nói, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn được rèn luyện học tập ở những trường đại học tiêu biểu nhất và có hiểu biết sâu rộng nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn. Ông sử dụng thành thạo nhiều thứ tiếng: Pháp, Nga, Trung Quốc.
Trong thời gian ở Liên Xô, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn đã tham gia những công tác của Quốc tế Cộng sản và Công hội đỏ. Năm 1931, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Ông được rèn luyện trong môi trường giao lưu quốc tế rộng lớn nên tinh thần quốc tế vô sản càng sớm được khẳng định vững chắc. Cũng trong thời gian này, ông được gần gũi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và được Người bồi dưỡng, dìu dắt. Nhờ vậy, ông trở thành một trong nhưng học trò ưu tú của Người cũng như sau này ông là một trong những người hiểu biết sâu sắc nhất, nghiên cứu thành công và có nhiều bài viết nhất về cuộc đời hoạt động cách mạng và con người Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một vinh dự lớn lao đối với ông mà ít người có là được phép xưng hô với Bác Hồ là “anh với em".
Năm 1945, ông về nước và được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ giảng dạy triết học và chủ nghĩa Mác-Lênin tại các lớp huấn luyện cán bộ cốt cán của các tỉnh miền Bắc. Tại những lớp học này, "học sinh ra về lan truyền đi khắp nơi những lời khâm phục về sự uyên bác và sắc sảo của một Giáo sư đỏ, một trí thức lỗi lạc của Đảng đã đem lại cho anh chị em những kiến thức sơ đẳng và khái quát về học thuyết Mác-Lênin, tăng thêm niềm tin tưởng của anh chị em vào con đường cách mạng của Đảng và Bác Hồ".
 Nhà văn hóa và giáo dục lớn, ngọn cờ của khoa học xã hội
 Cuộc đời hoạt động phong phú của Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn nổi bật lên sự nghiệp giáo dục và sự nghiệp khoa học xã hội-nhân văn. Tháng 11 năm 1946, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục, ông cùng các đồng nghiệp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ "diệt giặc dốt". Năm 1950, tên tuổi của ông gắn liền với công cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất. Với ba phương châm đúng đắn: “Dân tộc, khoa học, đại chúng”, cuộc cải cách giáo dục đã được tiến hành theo hướng: Học đi đôi với hành; nâng cao trình độ văn hóa kết hợp với lao động sản xuất; đẩy mạnh phát triển giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số; tất cả các môn học từ bậc tiểu học đến đại học đều giảng dạy và học bằng tiếng Việt, nhờ vậy đạt được những kết quả to lớn.
 Năm 1960, giáo sư Nguyễn Khánh Toàn tổ chức và thực hiện thành công cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai. Không chỉ là người đi đầu trong công cuộc cải cách, vì mục tiêu cao cả của giáo dục "Vì lợi ích trăm năm trồng người", ông còn đề xuất hàng loạt vấn đề lí luận có ý nghĩa quan trọng với công tác giáo dục: "Trong việc giáo dục, xây dựng con người mới, việc giáo dục tư tưởng, lập trường và đạo đức cách mạng là nhiệm vụ then chốt, lâu dài. Đặc biệt đối với thế hệ trẻ là những người kế tục và phát triển sự nghiệp cách mạng, việc giáo dục tư tưởng và đạo đức cách mạng còn có ý nghĩa hết sức quan trọng".
 Là một nhà văn hóa và giáo dục lớn của Việt Nam, đúng như giáo sư Vũ Khiêu nhận xét: Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn còn là một ngọn cờ của Khoa học xã hội và nhân văn. Năm 1965, trên cương vị mới là Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam), ông đã tập trung vào việc lãnh đạo ngành khoa học xã hội cả về tổ chức và học thuật.
 Bằng uy tín và khả năng to lớn của bản thân, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn đã tập hợp được nhiều nhà khoa học hàng đầu của cả nước như: Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đổng Chi, Phạm Huy Thông, Trần Văn Giàu, Trần Đức Thảo, Cao Xuân Huy, Vũ Khiêu, Văn Tân... về nghiên cứu và làm việc, cùng nhau hợp sức xây dựng nên một nền khoa học xã hội Việt Nam lớn mạnh như ngày nay.
 Nhiều viện nghiên cứu cũ được sắp xếp lại: Viện Sử học, Viện Văn học, Viện Kinh tế học; hàng loạt viện nghiên cứu mới lần lượt ra đời: Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Viện Xã hội học... đã góp phần đẩy mạnh công tác nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, đề ra và tích cực thực hiện nhiều đề tài khoa học phục vụ nhiệm vụ cách mạng do Đảng và Nhà nước giao phó…
 
Năm 1969, ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, với tư cách là Chủ nhiệm ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, trong Dự thảo phương hướng nghiên cứu khoa học gửi lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn đã đề nghị xúc tiến nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và xem nó như là cơ sở cho sự phát triển lý luận Mác - Lênin và sự sáng tạo trong đường lối cách mạng Việt Nam.
 
Là một nhà bác học uyên thâm trên nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn đã để lại hàng trăm tác phẩm khoa học, chuyên luận, bài nghiên cứu… có giá trị thấm đượm tính Đảng, tính khoa học và mang đậm dấu ấn của một tư duy Mácxít sâu sắc: Giáo dục dân chủ mới (1947); Đại cương Văn học sử Việt Nam (1954); Vài nhận xét về thời kỳ từ cuối nhà Lê đến nhà Nguyễn Gia Long (1954); Vấn đề dân tộc trong Cách mạng vô sản (1960-1962); Chung quanh một số vấn đề văn học và giáo dục (1972); Cách mạng và khoa học xã hội (1978); Một số vấn đề của khoa học nhân văn (1992)…
 
Với học vấn uyên thâm, được sự tín nhiệm của Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học đầu ngành khác, ngoài trọng trách Chủ nhiệm ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, ông còn giữ nhiều trọng trách của đất nước: Trưởng ban chỉ đạo biên soạn Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Văn học Việt Nam; Chủ tịch Hội đồng quốc gia chỉ đạo, biên soạn và xét duyệt Từ điển tiếng Việt phổ thông; ủy viên ủy ban Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh; ủy viên Hội đồng Trung ương xét duyệt chức danh khoa học; Viện trưởng Viện Sử học; Chủ tịch danh dự Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam… Dù ở cương vị nào, Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn luôn được bạn bè, đồng nghiệp trong nước cũng như quốc tế đánh giá là một trong những ngọn cờ của khoa học xã hội và là người đặt nền móng đầu tiên cho ngành khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam.
 
Năm 1975, ông được nhận danh hiệu Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học CHDC Đức. Năm 1976, ông được vinh dự bầu chọn là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô.
 
Ghi nhận những đóng góp của ông cho sự nghiệp nghiên cứu và phát triển khoa học Việt Nam, ông đã vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh (năm 1984); truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 (1996).
 
Ông mất ngày 9/12/1993, tên ông được đặt cho đường phố lớn ở Hà Nội.

 

Vusta
Thứ tư, 22/11/2017 05:47:26 AM

Bình chọn

Bạn thấy nội dung của website như thế nào ?

Bình chọn

Liên kết website

Mở liên kết

Lượt truy cập: 1,993,561

Đang online: 38